Đồng dao trẻ em — Tổng hợp 30 bài
Giới thiệu
Đồng dao là thể loại văn học dân gian truyền miệng dành cho trẻ em, thường gắn liền với các trò chơi, sinh hoạt hàng ngày và những bài học đầu đời. Những bài đồng dao ngắn gọn, giàu vần điệu, dễ nhớ, dễ thuộc, không chỉ giúp trẻ phát triển ngôn ngữ mà còn nuôi dưỡng tâm hồn qua những hình ảnh gần gũi của làng quê, gia đình và thiên nhiên. Từ bao đời nay, đồng dao đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu trong tuổi thơ của biết bao thế hệ người Việt.
Bài viết này tổng hợp 30 bài đồng dao phổ biến nhất trên khắp các vùng miền Việt Nam, được sắp xếp theo chủ đề và có chú thích nguồn gốc, cách sử dụng. Mỗi bài đồng dao đều mang một sắc thái riêng, phản ánh đời sống tinh thần phong phú và trí tưởng tượng bay bổng của trẻ thơ.
Nguồn gốc và lịch sử
Đồng dao Việt Nam có từ lâu đời, hình thành trong quá trình lao động, sinh hoạt cộng đồng của người dân. Theo một số tài liệu, đồng dao có thể đã xuất hiện từ thời kỳ văn hóa Đông Sơn, khi con người bắt đầu có những bài hát ru, hát đưa em. Qua nhiều thế kỷ, đồng dao được truyền miệng từ người lớn sang trẻ nhỏ, từ vùng này sang vùng khác, biến đổi linh hoạt theo ngữ âm địa phương và phong tục tập quán.
Không giống như các loại hình văn học viết, đồng dao không có tác giả cụ thể. Mỗi bài đồng dao là sản phẩm tập thể của cộng đồng, được sàng lọc qua thời gian, giữ lại những câu từ dễ nhớ, giàu nhạc tính và phù hợp với tâm lý trẻ em. Nhiều bài đồng dao còn gắn với các trò chơi dân gian như "Nu na nu nống", "Chi chi chành chành", "Rồng rắn lên mây" – những trò chơi đã được UNESCO ghi nhận là di sản văn hóa phi vật thể (ví dụ: bài chòi năm 2017, kéo co năm 2015).
Cách chơi và sử dụng đồng dao
Đồng dao thường được sử dụng trong ba bối cảnh chính:
- Hát ru, hát đưa em: Người lớn hát cho trẻ nghe khi ru ngủ, với giai điệu êm dịu.
- Trò chơi vận động: Trẻ em vừa hát vừa chơi các trò như nhảy dây, đánh chuyền, ú tim.
- Học tập và giải trí: Dạy trẻ nhận biết con vật, cây cối, số đếm, màu sắc.
Luật chơi thường rất đơn giản: trẻ đứng thành vòng tròn hoặc xếp hàng, một người đọc câu đồng dao, những người khác làm động tác theo nhịp. Khi kết thúc bài, ai làm sai hoặc chậm sẽ bị phạt (nhảy lò cò, hát lại bài khác).
30 bài đồng dao phổ biến
Nhóm 1: Đồng dao gắn với trò chơi (10 bài)
Bài 1: Nu na nu nống
Nu na nu nống
Cái trống nằm trong
Cái ong nằm ngoài
Củ khoai chấm mật
Phật ngồi phật khóc
Con cóc nhảy ra
Con gà ú ụ
Bụng mẹ to to
Ngồi xệp xuống đây
Phổ biến ở nhiều vùng, thường dùng trong trò chơi đập tay vào đùi, ai rút tay chậm sẽ thua.
Bài 2: Chi chi chành chành
Chi chi chành chành
Cái đanh thổi lửa
Con ngựa đứt cương
Ba vương ngũ đế
Chấp chế đi tìm
Ù à ù ập
Phổ biến ở Bắc Bộ, trẻ xòe bàn tay, một người đọc và chỉ vào từng ngón, kết thúc từ "ập" thì nắm tay lại.
Bài 3: Rồng rắn lên mây
Rồng rắn lên mây
Có cây lúc lắc
Có nhà điểm binh
Hỏi thăm thầy thuốc
Có nhà hay không?
Phổ biến ở nhiều vùng, trẻ xếp hàng làm "rồng", một người làm "thầy thuốc" đuổi bắt.
Bài 4: Tập tầm vông
Tập tầm vông
Tay không tay có
Tập tầm vó
Tay có tay không
Mời các bạn đoán
Tay nào có, tay nào không?
Phổ biến ở Nam Bộ, trẻ giấu vật trong lòng bàn tay, người khác đoán.
Bài 5: Dung dăng dung dẻ
Dung dăng dung dẻ
Dắt trẻ đi chơi
Đến cửa nhà trời
Lạy cậu lạy mợ
Cho cháu về quê
Cho dê đi học
Cho cóc ở nhà
Cho gà bới bếp
Ù à ù ập
Phổ biến ở Bắc Bộ, trẻ nắm tay nhau đi vòng tròn, cuối cùng ngồi xổm.
Bài 6: Kéo cưa lừa xẻ
Kéo cưa lừa xẻ
Ông thợ nào khỏe
Về ăn cơm vua
Ông thợ nào thua
Về bú tí mẹ
Phổ biến ở nhiều vùng, hai trẻ ngồi đối diện, nắm tay nhau kéo qua kéo lại.
Bài 7: Thả đỉa ba ba
Thả đỉa ba ba
Chớ bắt đàn bà
Phải tội đàn ông
Cơm trắng như bông
Gạo thơm như mật
...
Phổ biến ở Bắc Bộ, trẻ đứng thành vòng tròn, một người làm "đỉa" đuổi bắt.
Bài 8: Mèo đuổi chuột
Mèo đuổi chuột
Mèo đuổi chuột
Hãy chạy cho nhanh
Kẻo mèo bắt mất
Chuột ơi chuột hỡi
Chạy mau chạy mau
Phổ biến ở nhiều vùng, trẻ xếp vòng tròn, hai người làm mèo và chuột chạy đuổi.
Bài 9: Bịt mắt bắt dê
Bịt mắt bắt dê
Dê kêu be be
Ai bắt được dê
Thì được phần thưởng
Phổ biến ở nhiều vùng, một trẻ bịt mắt, những trẻ khác làm dê chạy quanh.
Bài 10: Nhảy lò cò
Lò cò lò cò
Nhảy cho khỏe chân
Nhảy cho khỏe tay
Ai mà nhảy sai
Phải làm lò cò
Phổ biến ở nhiều vùng, trẻ nhảy một chân theo ô vẽ trên đất.
Nhóm 2: Đồng dao về con vật (8 bài)
Bài 11: Con mèo mà trèo cây cau
Con mèo mà trèo cây cau
Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà
Chú chuột đi chợ đường xa
Mua mắm mua muối giỗ cha chú mèo
Phổ biến ở nhiều vùng, có dị bản ở vùng Nam Bộ thay "giỗ cha" bằng "cưới vợ".
Bài 12: Con vỏi con voi
Con vỏi con voi
Cái vòi đi trước
Hai chân trước đi trước
Hai chân sau đi sau
Còn cái đuôi đi sau rốt
Tôi xin kể nốt
Cái chuyện con voi
Phổ biến ở Bắc Bộ, dạy trẻ về hình dáng con voi.
Bài 13: Con gà cục tác
Con gà cục tác lá chanh
Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi
Con chó khóc đứng khóc ngồi
Bà già đi chợ mua tôi đồ chơi
Phổ biến ở nhiều vùng, có dị bản ở vùng Trung Bộ.
Bài 14: Chim chích bông
Chim chích bông
Bé tẻo teo
Rất hay hót
Chim chích bông
Hót líu lo
Trên cành tre
Phổ biến ở Nam Bộ, thường dùng trong trò chơi bắt chước tiếng chim.
Bài 15: Con cua mà có hai càng
Con cua mà có hai càng
Một mai một mắt, bò ngang suốt đời
Con cá mà có hai vây
Bơi lội tung tăng suốt ngày dưới ao
Phổ biến ở nhiều vùng, dạy trẻ đặc điểm con vật.
Bài 16: Ếch ộp
Ếch ở dưới ao
Vừa ngớt mưa rào
Nhảy ra bì bọp
Ếch kêu ộp ộp
Ếch kêu oạp oạp
Thấy bác đi câu
Rủ nhau trốn mau
Phổ biến ở Bắc Bộ, có dị bản ở vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Bài 17: Con kiến mà leo cành đa
Con kiến mà leo cành đa
Leo phải cành cụt, leo ra leo vào
Con kiến mà leo cành đào
Leo phải cành cụt, leo vào leo ra
Phổ biến ở nhiều vùng, thường hát khi trẻ chơi trò leo trèo.
Bài 18: Bồ các là bác chim ri
Bồ các là bác chim ri
Chim ri là dì sáo sậu
Sáo sậu là cậu sáo đen
Sáo đen là em tu hú
Tu hú là chú bồ các
Phổ biến ở Bắc Bộ, dạy trẻ về họ hàng các loài chim.
Nhóm 3: Đồng dao về thiên nhiên và gia đình (7 bài)
Bài 19: Cái ngủ mày ngủ cho lâu
Cái ngủ mày ngủ cho lâu
Mẹ mày đi cấy ruộng sâu chưa về
Bắt được con cá chép to
Đem về nấu cháo, bế bồng cho con
Phổ biến ở nhiều vùng, thường dùng làm bài hát ru.
Bài 20: Mưa rơi
Mưa rơi mưa rơi
Cho cây tốt tươi
Cho lá xanh ngời
Cho hoa thắm tươi
Cho đời vui tươi
Phổ biến ở Nam Bộ, trẻ hát khi trời mưa.
Bài 21: Trăng ơi từ đâu đến
Trăng ơi từ đâu đến
Hay từ cánh rừng xa
Trăng hồng như quả chín
Lửng lơ lên trước nhà
Phổ biến ở nhiều vùng, có dị bản ở vùng miền núi phía Bắc.
Bài 22: Cây bầu cây bí
Cây bầu cây bí
Cây bí cây bầu
Mẹ đi cấy cày
Con ở nhà trông
Trông mưa trông nắng
Trông cho cây tốt
Phổ biến ở Bắc Bộ, dạy trẻ về cây cối và công việc nhà nông.
Bài 23: Bà ơi bà đi chợ
Bà ơi bà đi chợ
Mua cho cháu quả na
Mua cho cháu quả đào
Mua cho cháu quả mận
Mua cho cháu quả cam
Phổ biến ở nhiều vùng, có dị bản thay tên quả theo mùa.
Bài 24: Công cha như núi Thái Sơn
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con
Phổ biến ở nhiều vùng, thường dùng để dạy đạo lý làm con.
Bài 25: Gió từ tay mẹ
Gió từ tay mẹ
Ru con ngủ say
Gió từ tay mẹ
Thổi bay cái nóng
Cho con mát mẻ
Ngủ ngon giấc tròn
Phổ biến ở Nam Bộ, thường dùng làm bài hát ru.
Nhóm 4: Đồng dao về số đếm và chữ cái (5 bài)
Bài 26: Một với một là hai
Một với một là hai
Hai với hai là bốn
Bốn với bốn là tám
Tám với tám là mười sáu
Mười sáu với mười sáu là ba mươi hai
Phổ biến ở nhiều vùng, dạy trẻ đếm số cơ bản.
Bài 27: Mười ngón tay
Mười ngón tay
Xòe ra đây
Ngón cái to
Ngón trỏ dài
Ngón giữa cao
Ngón áp út
Ngón út nhỏ
Cùng nhau chơi
Phổ biến ở Bắc Bộ, dạy trẻ nhận biết các ngón tay.
Bài 28: A ă â
A ă â
Bê xê dê
Đê ê gê
Hê i ca
...
Phổ biến ở nhiều vùng, có dị bản theo bảng chữ cái từng thời kỳ.
Bài 29: Một cây làm chẳng nên non
Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao
Một người làm chẳng nên giàu
Ba người chung sức nên giàu sang
Phổ biến ở nhiều vùng, dạy bài học về đoàn kết.
Bài 30: Đi cầu đi quán
Đi cầu đi quán
Đi bán lợn con
Đi mua cái nón
Đi đón cô dâu
Đi cầu đi quán
Về nhà ăn cơm
Phổ biến ở Nam Bộ, trẻ hát khi chơi trò đi chợ.
Biến thể vùng miền
Đồng dao có sự biến đổi linh hoạt giữa
