Văn hóa Bắc Ninh
Giới thiệu vùng đất
Tỉnh Bắc Ninh mới được hình thành từ việc sáp nhập tỉnh Bắc Ninh và tỉnh Bắc Giang theo Nghị quyết 202/2025/QH15 ngày 12/6/2025. Trung tâm hành chính đặt tại thành phố Bắc Ninh. Vùng đất này nằm ở cửa ngõ phía Bắc của đồng bằng sông Hồng, nơi giao thoa giữa văn hóa Kinh Bắc cổ kính và sự phát triển hiện đại.
Bắc Ninh (tỉnh mới) có bề dày lịch sử hàng nghìn năm, là cái nôi của nền văn minh sông Hồng. Vùng đất Bắc Ninh cũ vốn nổi tiếng với xứ Kinh Bắc – vùng đất văn hiến, nơi phát tích của nhiều khoa bảng, trạng nguyên. Bắc Giang từ lâu đã được biết đến với các di tích lịch sử như chùa Bổ Đà, đền Thần Đồng, và là vùng đất giàu truyền thống cách mạng. Sự sáp nhập tạo nên một tỉnh rộng lớn, hợp nhất hai nền văn hóa bổ sung cho nhau: một bên là văn hóa Quan họ, làng nghề tinh xảo; một bên là văn hóa dân tộc thiểu số đa dạng và những lễ hội lâu đời.
Địa hình tỉnh mới có cả đồng bằng, trung du và vùng núi thấp, tạo nên sự phong phú về cảnh quan và sinh hoạt văn hóa. Dân cư chủ yếu là người Kinh, cùng các dân tộc thiểu số như Tày, Nùng, Sán Dìu sống tập trung ở các huyện phía Bắc. Văn hóa Bắc Ninh hôm nay là sự kết tinh giữa truyền thống Kinh Bắc và bản sắc các dân tộc anh em, góp phần tạo nên một bức tranh văn hóa đa sắc màu.
Lễ hội truyền thống tiêu biểu
Tỉnh Bắc Ninh sau sáp nhập sở hữu kho tàng lễ hội phong phú, tiêu biểu nhất là Hội Lim – lễ hội lớn của vùng Quan họ. Hội Lim diễn ra vào ngày 12 tháng Giêng âm lịch hàng năm tại xã Nội Duệ, huyện Tiên Du (Bắc Ninh cũ). Đây là dịp để các liền anh, liền chị Quan họ trình diễn những làn điệu mượt mà, giao lưu kết bạn. Đặc biệt, hội Lim không chỉ có hát Quan họ mà còn có các trò chơi dân gian như đánh cờ, chọi gà, hội thi trang trí thuyền rồng.
Lễ hội chùa Bút Tháp (huyện Thuận Thành, Bắc Ninh cũ) diễn ra vào tháng 4 âm lịch, tôn vinh Phật giáo và gắn với kiến trúc cổ độc đáo. Chùa được xây dựng từ thế kỷ 17, nổi tiếng với tượng Phật bà nghìn mắt nghìn tay, là biểu tượng của nghệ thuật điêu khắc thời Lê Trung Hưng.
Về phía Bắc Giang, Lễ hội chùa Bổ Đà (xã Tiên Sơn, huyện Việt Yên) là một trong những lễ hội lớn, diễn ra vào tháng 2 âm lịch. Chùa Bổ Đà có vườn tháp cổ với hơn 100 ngôi tháp, được xem là “vườn tháp lớn nhất Việt Nam”. Lễ hội có tục rước nước, hát quan họ (do giao lưu văn hóa Bắc Ninh – Bắc Giang từ lâu), và các trò diễn xướng dân gian.
Lễ hội đền Thần Đồng (huyện Hữu Lũng, Bắc Giang cũ) tổ chức vào tháng 3 âm lịch, tưởng nhớ vị thần bảo hộ vùng đất, có tục đấu vật, thi kéo co và hát ví. Ngoài ra, các lễ hội của đồng bào dân tộc thiểu số như lễ hội Lồng Tồng (xuống đồng) của người Tày, Nùng ở các huyện Lục Ngạn, Sơn Động cũng là nét văn hóa đặc sắc của tỉnh mới.
Làng nghề truyền thống
Bắc Ninh cũ và Bắc Giang đều là vùng đất của những làng nghề nổi tiếng. Làng tranh Đông Hồ (xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh cũ) là làng nghề làm tranh dân gian bằng giấy dó, in từ bản khắc gỗ, nổi tiếng trong và ngoài nước. Tranh Đông Hồ mang đậm triết lý nhân sinh của người Việt, thường được treo trong dịp Tết.
Làng gốm Phù Lãng (xã Phù Lãng, huyện Quế Võ, Bắc Ninh cũ) có tuổi đời hơn 700 năm, chuyên sản xuất gốm mộc với men nâu đặc trưng. Sản phẩm chủ yếu là chum, vại, chén, bát, nổi tiếng với độ bền và màu sắc cổ kính.
Làng đúc đồng Đại Bái (xã Đại Bái, huyện Gia Bình, Bắc Ninh cũ) là làng nghề đúc đồng hàng trăm năm, chuyên làm chuông, tượng đồng, đồ thờ cúng. Theo tư liệu dân gian, làng có từ thời Lý, với những bí quyết gia truyền độc đáo.
Về phía Bắc Giang, làng mây tre đan Xuân Hòa (xã Xuân Hòa, huyện Yên Dũng) nổi tiếng với các sản phẩm thủ công mỹ nghệ từ tre, nứa. Làng rượu Vân (xã Vân Hà, huyện Việt Yên, Bắc Giang) có nghề nấu rượu men lá cổ truyền, với hương vị đặc biệt từ gạo nếp và nước giếng làng. Làng nghề thêu tay Đông Thọ (xã Đông Thọ, huyện Yên Dũng) chuyên thêu tranh, áo dài, là điểm đến của du khách yêu thích thủ công.
Sự kết hợp giữa các làng nghề truyền thống hai bên tạo nên một không gian văn hóa thủ công đa dạng, vừa có tinh hoa của đồng bằng (tranh, gốm, đúc đồng) vừa có sản phẩm độc đáo của vùng trung du (mây tre, thêu, rượu).
Ca dao tục ngữ về vùng đất
Vùng đất Kinh Bắc xưa, nay là Bắc Ninh mới, đã in dấu trong kho tàng ca dao tục ngữ Việt Nam. Một số câu phổ biến:
-
“Nhất kinh kỳ, nhì Bắc Ninh” – Câu tục ngữ này ca ngợi sự phồn thịnh, văn hiến của vùng đất Bắc Ninh ngay sau kinh thành Thăng Long. Đây là câu nói lưu truyền trong dân gian, không có nguồn sử liệu chính xác nhưng được nhiều người biết đến.
-
“Ai về Nội Duệ, Cầu Lim / Có chàng quân tử, có nàng thuyền quyên” – Ca dao về hội Lim, nơi những chàng trai cô gái Quan họ gặp gỡ, tìm bạn tình.
-
“Bắc Ninh có hội Lim / Trai thanh gái lịch hát tình tang hay” – Câu ca dao địa phương khác cũng nhắc đến hội Lim.
-
“Quan họ Bắc Ninh, gái trai đối đáp” – Một câu ngắn gọn nói về đặc sản văn hóa Quan họ.
-
Về Bắc Giang, có câu ca dao: “Làng Vân rượu ngọt, làng Đông Hồ tranh / Đất Bắc Giang tình nghĩa thắm duyên” – Tuy chưa được lưu truyền rộng rãi, nhưng theo tư liệu dân gian, câu ca này xuất hiện trong các bài hát giao lưu giữa các làng.
-
“Dù ai buôn bán trăm nghề / Nhớ ngày giỗ tổ tháng ba mùng mười” – Câu ca dao về tín ngưỡng thờ Mẫu, vốn phổ biến ở vùng Bắc Ninh, nhất là với tục thờ bà Chúa Kho ở Kinh Bắc.
Ngoài ra, còn có câu: “Bắc Giang sơn thủy hữu tình / Non xanh nước biếc hữu duyên với người” – Một câu ca dao ca ngợi cảnh đẹp thiên nhiên vùng Bắc Giang, thường được nhắc trong các tác phẩm văn học địa phương.
Phong tục đặc trưng
Tục hát Quan họ là nét văn hóa đặc sắc nhất của vùng Bắc Ninh cũ, nay tiếp tục được bảo tồn và phát triển. Quan họ không chỉ là một thể loại dân ca mà còn là một sinh hoạt văn hóa cộng đồng, thể hiện lối ứng xử thanh lịch, tình yêu quê hương và sự giao duyên giữa nam nữ. Người hát Quan họ có quy tắc riêng: không hát một mình, phải hát theo từng cặp, và không được có quan hệ yêu đương trực tiếp giữa các liền anh, liền chị. Tục “kết chạ” giữa các làng Quan họ là nét đẹp trong quan hệ xã hội.
Tục thờ Mẫu và tín ngưỡng thờ Nữ thần phổ biến ở đền Bà Chúa Kho (huyện Quế Võ), đền Dầm (xã Ninh Xá, huyện Thuận Thành). Người dân tin rằng các vị thần nữ linh thiêng phù hộ cho mùa màng, buôn bán. Lễ hội đền Bà Chúa Kho diễn ra vào tháng Giêng, thu hút đông đảo du khách đến cầu tài lộc.
Phong tục kéo co và trò chơi dân gian như thi đấu vật, đánh đu cũng rất phổ biến. Riêng Bắc Giang, tục chơi kéo co ở một số làng có luật lệ khá đặc biệt: có thể kéo co bằng tay, bằng dây thừng, thậm chí có nơi kéo co qua sông.
Phong tục của đồng bào dân tộc thiểu số ở các huyện như Lục Ngạn, Sơn Động, Yên Thế có tục Tết nhảy (lễ hội nhảy lửa) của người Sán Dìu, tục cưới hỏi thách cưới bằng lợn, gà của người Tày, Nùng. Người Tày có tập quán dựng nhà sàn, thờ cúng tổ tiên theo nghi thức riêng, và có những điệu múa, hát then đặc trưng. Những phong tục này vẫn được duy trì trong đời sống sinh hoạt hàng ngày và trở thành nét văn hóa đa dạng của tỉnh mới.
Ngoài ra, tục cúng cơm mới (lễ mừng lúa mới) vào tháng 9, tháng 10 âm lịch cũng được tổ chức ở nhiều làng quê, với ý nghĩa tạ ơn trời đất, tổ tiên đã ban cho mùa màng bội thu.
Bài tổng hợp từ tư liệu dân gian. Một số chi tiết có thể thay đổi theo vùng miền.
Ẩm thực văn hóa truyền thống
Vùng đất Bắc Ninh và Bắc Giang, nay hợp nhất thành tỉnh Bắc Ninh rộng lớn, lưu giữ những món ăn dân dã nhưng đậm đà bản sắc, phản ánh triết lý sống và phong tục của người Kinh Bắc qua hàng trăm năm.
Bánh phu thê
Bánh phu thê (còn gọi bánh xu xê) có nguồn gốc từ truyền thuyết tình yêu thủy chung của đôi vợ chồng nghèo ở làng Châu Khê (Bắc Ninh). Vỏ bánh làm từ bột nếp, nhân đậu xanh và dừa, gói trong lá chuối hình chữ nhật. Món bánh tượng trưng cho sự gắn kết, thường xuất hiện trong mâm lễ cưới hỏi, thể hiện mong ước hạnh phúc viên mãn.
Nem Bùi
Nem Bùi có từ thế kỷ 17 tại làng Bùi (xã Ninh Xá, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh). Bí quyết làm nem nằm ở thịt nạc vai xay nhuyễn, da lợn thái nhỏ, trộn với thính gạo rang, nêm gia vị chuẩn. Nem được lên men tự nhiên, ăn kèm lá đinh lăng và chấm nước mắm chua ngọt. Món ăn từng là tiến vua, nay trở thành đặc sản dâng cúng tổ tiên trong các dịp lễ Tết, thể hiện nét tinh tế trong ẩm thực đất Kinh Bắc.
Vải thiều Lục Ngạn
Vải thiều Lục Ngạn (Bắc Giang) gắn với vùng đồi núi trung du, nổi tiếng từ thời Pháp thuộc. Giống vải có hạt nhỏ, cùi dày, vị ngọt thanh và hương thơm đặc trưng. Hàng năm, lễ hội vải thiều vào tháng 5-6 là dịp bà con tri ân tổ nghề và cầu mùa. Trái vải không chỉ là đặc sản mà còn là biểu tượng giao thương, kết nối văn hóa vùng Đông Bắc.
Bánh đa Kế
Làng Kế (xã Dương Đức, huyện Lạng Giang, Bắc Giang) giữ nghề làm bánh đa hơn 300 năm. Bánh được tráng từ bột gạo, phơi trên những giàn tre rồi nướng giòn. Mỗi chiếc bánh đa mang màu nâu vàng của gạo quê, ăn cùng thịt chó, chả hoặc bò khô. Nghề bánh đa gắn với tín ngưỡng thờ tổ nghề ở đình làng, thể hiện đạo lý "uống nước nhớ nguồn".
Bánh gai
Bánh gai (Bắc Giang) làm từ bột nếp pha lá gai xay nhuyễn, nhân đậu xanh và mỡ lợn, gói trong lá chuối khô. Món bánh thường xuất hiện trong các dịp lễ hội, giỗ tổ, Tết Nguyên đán. Màu đen của bánh tượng trưng cho đất đai phì nhiêu, hương vị ngọt bùi gợi nhớ công lao của tổ tiên khai phá vùng đất Bắc Giang.
Phan am thuc tong hop tu tu lieu van hoa dan gian.
Nguồn tham khảo
- Wikipedia tiếng Việt: Bắc Ninh
- Cục Di sản Văn hóa: Danh mục di sản phi vật thể quốc gia