Trang chủban-do-van-hoa

Văn hóa Cao Bằng

Giới thiệu vùng đất

Cao Bằng là tỉnh miền núi biên giới phía Đông Bắc của Tổ quốc, nằm trong vùng Trung du và miền núi phía Bắc, giữ nguyên địa giới hành chính sau Nghị quyết 202/2025/QH15. Với địa hình hiểm trở, nhiều núi đá vôi, hang động và thác nước, Cao Bằng không chỉ nổi tiếng với cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ như thác Bản Giốc, suối Lê Nin, hồ Thang Hen, mà còn là vùng đất giàu bản sắc văn hóa của các dân tộc Tày, Nùng, Mông, Dao, Sán Chỉ, Lô Lô…

Từ xa xưa, Cao Bằng đã là địa bàn cư trú của người Việt cổ, nơi có di tích khảo cổ hang Ngườm (Thạch An) và nền văn hóa Hòa Bình. Vùng đất này còn ghi dấu chiến khu cách mạng trong kháng chiến chống Pháp, với Khu di tích Quốc gia đặc biệt Pác Bó. Sự giao thoa văn hóa giữa các dân tộc đã tạo nên một bức tranh văn hóa đa sắc màu, độc đáo khó nơi nào có được.

Lễ hội truyền thống tiêu biểu

Lễ hội Lồng Tồng (xuống đồng) là lễ hội lớn nhất của người Tày, Nùng ở Cao Bằng, diễn ra vào tháng Giêng âm lịch hàng năm. Lễ hội cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, với các nghi thức cúng thần linh, hội thi cày, thi hát giao duyên, ném còn, đánh quay. Mỗi bản làng đều tổ chức Lồng Tồng tại ruộng lúa của làng, tạo nên không khí vui tươi, gắn kết cộng đồng.

Lễ hội Nàng Hai (còn gọi là hội Hoa Mẫu) của người Tày ở Thạch An, Bảo Lạc diễn ra vào tháng Ba âm lịch. Đây là lễ hội mang đậm tín ngưỡng thờ Mẫu, với nghi thức rước “hoa mẫu” từ rừng về làng, hát giao duyên, múa cờ, hội thi làm bánh… Theo tư liệu dân gian, lễ hội nhằm tưởng nhớ công đức của các vị nữ thần bảo hộ cho bản mường.

Lễ hội đền Kỳ Sầm (xã Hoàng Tung, Hòa An) diễn ra vào ngày mùng 7 tháng Giêng âm lịch, thờ vua nhà Mạc và các tướng lĩnh triều Mạc có công khai khẩn vùng đất Cao Bằng. Lễ hội gồm phần lễ trang nghiêm, phần hội với các trò diễn xướng dân gian như múa sư tử, hát then, đánh trống đồng.

Lễ hội Báo bản của người Nùng (còn gọi là lễ Kỳ an) được tổ chức vào dịp đầu xuân, nhằm tạ ơn thần linh, cầu mong sức khỏe, bình yên cho cả bản. Người dân chuẩn bị lễ vật gồm gà, xôi màu, rượu, cúng tại đình làng và tổ chức các hoạt động văn nghệ.

Làng nghề truyền thống

Làng rèn Phúc Sen (xã Phúc Sen, Quảng Hòa) là một trong những làng nghề rèn nổi tiếng lâu đời của Cao Bằng, có từ thế kỷ 17. Người dân nơi đây (dân tộc Nùng) sử dụng than từ rừng và quặng sắt tại chỗ để rèn dao, liềm, cuốc, xẻng… Tay nghề rèn thủ công tạo ra những sản phẩm sắc bén, bền đẹp, được ưa chuộng khắp vùng Đông Bắc.

Làng nghề đan lát Chòi Hạ (xã Mông Ân, Bảo Lâm) của dân tộc Dao, chuyên sản xuất các sản phẩm từ mây, tre: rổ, rá, gùi, bồ nông. Nghề đan lát vừa là kế sinh nhai vừa là nét văn hóa, thể hiện sự khéo léo của người phụ nữ Dao.

Làng thổ cẩm Sơn Lập (xã Sơn Lập, Bảo Lạc) của dân tộc Tày và Mông, nổi tiếng với các tấm thổ cẩm dệt tay, thêu họa tiết hoa văn đặc sắc (hình con công, hoa văn hình quả trám). Nghề dệt thổ cẩm đã được bảo tồn qua nhiều thế hệ, hiện nay phát triển thành sản phẩm du lịch phục vụ khách tham quan.

Làng làm hương Hoàng Tung (Hòa An) chuyên sản xuất hương trầm từ tre và các loại thảo dược, phục vụ nhu cầu tín ngưỡng của đồng bào các dân tộc trong vùng.

Nghề làm giấy bản (giấy dó) từ cây dó truyền thống tại các xã như Vân An, Phong Châu (Trùng Khánh) đã tồn tại hàng trăm năm, dùng để viết chữ Nôm, làm giấy hàng mã, sách Then.

Ca dao tục ngữ về vùng đất

Một số câu ca dao, tục ngữ phổ biến gắn với Cao Bằng:

Phong tục đặc trưng

Hát Then và đàn tính là di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu nhất của người Tày, Nùng Cao Bằng (đã được UNESCO ghi danh). Then là hình thức hát nghi lễ trong các dịp cầu an, mừng nhà mới, cưới hỏi, kết hợp với đàn tính (đàn dây gắn với bầu khô). Nội dung Then ca ngợi thần linh, thiên nhiên, dạy đạo lý làm người. Múa Then thường có điệu múa quạt, múa khăn.

Tục kết láng (kết nghĩa) của người Tày: Hai người khác họ có thể kết làm anh em “kết láng”, cùng nhau lo toan công việc lớn nhỏ trong đời. Quan hệ này bền chặt, mang tính cộng đồng sâu sắc.

Tục cưới hỏi của người Nùng: Trải qua nhiều bước từ dạm ngõ, ăn hỏi, lễ cưới chính thức. Trong lễ cưới, nhà trai mang lễ vật gồm trâu, rượu, gạo, trầu cau. Cô dâu đội khăn đen nhiều lớp, mặc áo dài thổ cẩm. Sau lễ, cô dâu ở nhà chồng, nhưng có tục “ở rể” trong vài ngày ở một số vùng.

Tục ma chay của người Tày: Khi có người mất, tang gia tổ chức lễ cúng, giữ hồi cơm (cơm cúng người chết trước khi chôn). Người thân mang cơm, trầu cau ra mộ cúng vào các ngày mùng 1, rằm. Có tục “đưa hồn” lên trời (theo tín ngưỡng Then) - thầy Then làm lễ đưa linh hồn người chết về với tổ tiên.

Tục thờ cúng tổ tiên kết hợp với thờ thần bảo hộ bản mường (Thần Rừng, Thần Nước). Người Tày thường có bàn thờ ở gian chính, trong một số nhà còn có bàn thờ “Mẫu” đặt riêng.

Phong tục xem “ngày tốt” rất phổ biến, người dân hay nhờ thầy cúng hoặc người cao tuổi chọn ngày khởi công, dựng nhà, cưới hỏi, xuất hành.

Tục uống rượu măng (rượu ngâm măng rừng) và hát Lượn (hát giao duyên) vào các đêm trăng: Lượn là hình thức hát đối đáp của nam nữ thanh niên Tày, Nùng, thường diễn ra trong các dịp lễ hội, tết đến xuân về, thể hiện tình yêu đôi lứa và hiểu biết văn hóa.

Bài tổng hợp từ tư liệu dân gian. Một số chi tiết có thể thay đổi theo vùng miền.

Ẩm thực văn hóa truyền thống

Ẩm thực Cao Bằng là sự hòa quyện tinh tế giữa văn hóa các dân tộc Tày, Nùng, Mông, Dao, được hun đúc qua nhiều thế hệ. Mỗi món ăn không chỉ thể hiện khẩu vị mà còn chứa đựng những phong tục, tín ngưỡng và lối sống gắn bó với thiên nhiên núi rừng.

Phở chua Cao Bằng

Phở chua là món ăn biểu tượng cho sự cầu kỳ và lòng hiếu khách của người Tày, Nùng. Sợi phở làm từ gạo ngon miền núi, kết hợp với thịt thăn lợn quay, lạc, rau thơm và nước dùng chua ngọt đặc trưng từ me, dấm bỗng. Theo truyền thống, phở chua thường được dùng trong các dịp lễ hội, đám cưới hoặc tiếp khách quý, tượng trưng cho sự sung túc và gắn kết cộng đồng.

Bánh trứng kiến

Đây là món bánh độc đáo gắn liền với mùa kiến đẻ trứng vào tháng 3-4 âm lịch. Đồng bào Tày, Nùng lấy trứng kiến đen hòa với bột gạo nếp, lá gừng tươi, hấp chín. Món bánh mang hương vị béo bùi, chua nhẹ, thể hiện sự tận dụng nguồn nguyên liệu tự nhiên. Vào mùa kiến, các gia đình thường quây quần làm bánh, coi đó như một nghi thức mừng mùa sinh sôi, cầu mong vụ mùa bội thu.

Lạp xưởng hun khói vùng cao

Lạp xưởng của người Mông ở Cao Bằng được làm từ thịt lợn bản, tẩm ướp gia vị đặc trưng như thảo quả, hạt dổi, rồi hun trên gác bếp bằng khói than củi rừng. Quá trình hun kéo dài nhiều ngày tạo nên màu nâu đen, vị thơm nồng, bảo quản được lâu. Món ăn này thường xuất hiện trong những ngày tết, lễ cúng tổ tiên, thể hiện sự tiết kiệm và khéo léo của người phụ nữ miền núi.

Thịt trâu gác bếp

Thịt trâu gác bếp là món dự trữ truyền thống của người Mông, người Dao. Thịt thăn trâu được tẩm ướp muối, ớt, gừng, sả rồi hong trên giàn bếp lửa hàng tháng. Làn khói bếp làm thịt khô dần, giữ trọn vị ngọt tự nhiên, có thể ăn kèm cơm lam hoặc xé nhỏ chấm chẩm chéo. Theo tín ngưỡng, thịt gác bếp còn là lễ vật dâng cúng trong các nghi lễ mừng nhà mới, cầu sức khỏe cho gia chủ.

Rượu ngô men lá

Rượu ngô là thức uống không thể thiếu trong đời sống văn hóa của đồng bào vùng cao Cao Bằng. Ngô hạt được ủ với men lá rừng, sau đó chưng cất thủ công. Men lá là bí quyết gia truyền, được làm từ các loại thảo mộc như riềng, gừng, quế, hồi… Rượu ngô có vị thơm, cay nhẹ. Trong các lễ hội, người ta nâng chén rượu mừng khách, tượng trưng cho sự ấm áp, tình đoàn kết và sự tôn kính tổ tiên.

Phan am thuc tong hop tu tu lieu van hoa dan gian.

Nguồn tham khảo

© Lịch Lành — lichlanh.com