Trang chủban-do-van-hoa

Văn hóa Hà Tĩnh

Giới thiệu vùng đất

Hà Tĩnh nằm ở vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung, là dải đất hẹp với địa hình đồi núi xen kẽ đồng bằng ven biển. Tỉnh được giữ nguyên sau Nghị quyết 202/2025/QH15, tiếp tục là một trong 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh của Việt Nam với trung tâm hành chính đặt tại thành phố Hà Tĩnh.

Vùng đất này nổi tiếng với truyền thống hiếu học và giàu bản sắc văn hóa dân gian. Nơi đây là quê hương của nhiều danh nhân kiệt xuất như Đại thi hào Nguyễn Du, Danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, Thám hoa Nguyễn Văn Giai… Văn hóa Hà Tĩnh mang dấu ấn rõ nét của miền Trung khắc nghiệt, nơi cư dân phải vật lộn với thiên tai nhưng vẫn giữ gìn nếp sống cần cù, chịu thương chịu khó và trọng nghĩa tình. Những di tích lịch sử – văn hóa trải dài từ núi Hồng Lĩnh đến biển Cửa Lò, từ đền Cả đến chùa Hương Tích, tạo nên bức tranh văn hóa đa sắc màu.

Lễ hội truyền thống tiêu biểu

Hà Tĩnh có hệ thống lễ hội phong phú, phản ánh sinh hoạt tín ngưỡng và tinh thần cộng đồng.

Lễ hội Đền Cửa Sót (huyện Thạch Hà) diễn ra vào tháng 2 âm lịch hàng năm, thờ Đức Thánh Cả (Nguyễn Văn Nghi) và các vị thần biển. Lễ hội có nghi thức rước sắc phong, tế lễ trang nghiêm và các trò diễn dân gian như hát chèo, hát ví dặm, cùng phần hội sôi động với thi bơi thuyền, kéo co, nấu cơm thi.

Lễ hội Chùa Hương Tích (huyện Can Lộc) – một trong những danh thắng nổi tiếng, lễ hội chính tổ chức vào mùa xuân (tháng 2 – tháng 3 âm lịch). Chùa Hương Tích không chỉ là điểm hành hương của Phật tử mà còn gắn với câu chuyện về công chúa Diệu Thiện tu hành. Lễ hội có nghi lễ dâng hương, cầu quốc thái dân an, kết hợp với các hoạt động văn nghệ, leo núi, tham quan thắng cảnh.

Lễ hội đền Lê Khôi (huyện Nghi Xuân) tưởng niệm danh tướng Lê Khôi – người có công giúp Lê Lợi đánh đuổi quân Minh. Lễ hội diễn ra vào tháng 3 âm lịch với các nghi thức rước kiệu, tế lễ, múa lân, đấu vật, hát tuồng. Đây là lễ hội tiêu biểu cho tinh thần thượng võ và lòng yêu nước của người dân Hà Tĩnh.

Lễ hội Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (huyện Hương Sơn) được tổ chức vào tháng 9 – 10 âm lịch tại khu di tích mộ và nhà thờ danh y. Lễ hội có phần tế lễ trang trọng, dâng hương, đọc văn tế ca ngợi công đức của ông, kết hợp với khám bệnh phát thuốc miễn phí và các hoạt động văn hóa mang tính giáo dục y đức.

Ngoài ra, còn có các lễ hội dân gian như lễ hội cầu ngư ở các xã ven biển (Thạch Trị, Cẩm Nhượng…), lễ hội đền Bà Hải (huyện Kỳ Anh) gắn với tín ngưỡng thờ Mẫu, và hội làng ở nhiều địa phương với trò diễn hát dặm, hát phường vải.

Làng nghề truyền thống

Hà Tĩnh có nhiều làng nghề thủ công lâu đời, thể hiện đôi bàn tay khéo léo và sự sáng tạo của người dân.

Làng nghề đan lát Sơn Lễ (xã Sơn Lễ, huyện Hương Sơn): Từ xa xưa, người dân nơi đây đã tận dụng tre, nứa, mây để đan thành các sản phẩm như rổ rá, thúng mủng, mẹt, chiếu. Sản phẩm của làng nghề bền, đẹp, được ưa chuộng khắp vùng. Nghề đan lát thường được truyền từ đời này sang đời khác, gắn với những buổi sinh hoạt cộng đồng.

Làng nghề rèn Thịnh Lộc (xã Thịnh Lộc, huyện Can Lộc): Nổi tiếng với các sản phẩm dao, kéo, cuốc, xẻng. Nghề rèn ở Thịnh Lộc đã có hàng trăm năm, với bí quyết chọn thép và kỹ thuật tôi rèn đặc biệt tạo ra lưỡi dao sắc bén, bền lâu. Theo tư liệu dân gian, làng rèn nơi đây từng cung cấp nông cụ cho cả vùng rộng lớn.

Làng nghề mộc Hoa Cương (xã Khánh Vĩnh Đông, huyện Diễn Châu – lưu ý: làng nghề này thuộc vùng giao thoa, theo một số nguồn, tại Hà Tĩnh có làng mộc Phú Lương (xã Vượng Trị, huyện Can Lộc) chuyên làm nhà gỗ, tạc tượng, đồ thờ. Tuy nhiên, thông tin về làng mộc Hà Tĩnh còn hạn chế, có thể kể thêm làng nghề mây tre đan ở xã Tùng Lợi (huyện Đô Lương) không phải Hà Tĩnh. Để tránh sai, tôi chỉ nêu làng nghề rõ ràng.

Làng nghề nón lá Phú Phong (xã Phú Phong, huyện Hương Khê): Sản xuất nón lá truyền thống với các loại nón bài thơ, nón quai thao. Người dân sử dụng lá cọ, lá gồi, khâu nón tỉ mỉ, tạo nên những chiếc nón vừa che nắng vừa mang giá trị thẩm mỹ. Nón Phú Phong từng được biết đến như một nét đẹp của người phụ nữ xứ Nghệ - Hà Tĩnh.

Ngoài ra, còn có nghề làm trống ở xã Việt Tiến (huyện Thạch Hà), nghề dệt vải ở một số địa phương vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Ca dao tục ngữ về vùng đất

Hà Tĩnh là vùng đất đi vào ca dao, tục ngữ với những câu nói về thiên nhiên khắc nghiệt, con người cần cù, và tình yêu quê hương.

Các câu tục ngữ cũng phản ánh đời sống sản xuất: “Lúa đồng Cầu Rào, gạo làng Khoái”, “Ướt gì bằng ướt áo tơi / Lạnh gì bằng lạnh đất trời xứ Nghê” (theo phương ngữ, “Nghê” là Nghệ Tĩnh).

Phong tục đặc trưng

Người Hà Tĩnh có nhiều phong tục tập quán gắn bó mật thiết với đời sống cộng đồng, tín ngưỡng và lao động sản xuất.

Tục thờ cúng tổ tiên và thờ Thành hoàng: Như nhiều vùng nông thôn Bắc Trung Bộ, mỗi gia đình Hà Tĩnh đều có bàn thờ gia tiên, thờ cúng ông bà tổ tiên vào các dịp giỗ chạp, Tết Nguyên đán. Làng xã có đình thờ Thành hoàng, hàng năm tổ chức lễ tế vào mùa xuân hoặc mùa thu để cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi.

Tục hát ví dặm và hát phường vải: Hát ví dặm là loại hình dân ca phổ biến ở Nghệ Tĩnh (trong đó có Hà Tĩnh). Đây là những bài hát đối đáp nam nữ trong lao động, có thể hát ở bến nước, ruộng đồng, hoặc trong sinh hoạt gia đình. Hát phường vải là lối hát lao động của các thợ dệt, vừa đỡ mệt vừa gắn kết. Phong tục này vẫn được gìn giữ và phát triển như di sản văn hóa phi vật thể.

Tục cúng cá Ông và lễ hội cầu ngư: Ngư dân ven biển các huyện Nghi Xuân, Thạch Hà, Kỳ Anh có tín ngưỡng thờ Cá Ông (cá voi). Họ lập đình thờ, tổ chức lễ cúng vào tháng 3 hoặc tháng 4 âm lịch để cầu mong mùa đánh bắt bội thu, tàu thuyền an toàn. Nghi lễ có rước kiệu, dâng lễ vật là hoa quả, bánh trái, kèm trống chiêng, hát hò.

Phong tục ăn trầu, nhuộm răng: Ở vùng thôn quê, người già từng có tục ăn trầu, nhuộm răng đen như một nét đẹp truyền thống. Ngày nay tập tục này mai một nhưng vẫn còn lưu giữ trong những lễ hội, đám cưới.

Tục kết nghĩa làng xã: Người dân Hà Tĩnh giàu lòng tương thân tương ái, có tục kết nghĩa giữa các làng trong vùng hoặc với làng ở vùng khác để cùng giúp đỡ nhau khi gặp thiên tai, dịch bệnh, tang ma. Phong tục này thể hiện tinh thần đoàn kết cộng đồng cao.

Đám cưới và đám tang: Đám cưới người Hà Tĩnh ngày xưa có nhiều nghi thức: lễ dạm hỏi, lễ nạp tài, lễ đón dâu với những bài hát ví dặm đối đáp, trong đó có tục “hát cửa buồng” – cô dâu chú rể hát giao duyên trước khi vào lễ thành hôn. Đám tang giữ tục khóc mướn (người thôn xóm đến khóc và phúng viếng) và tổ chức trà nước trong tang lễ, thể hiện tình nghĩa láng giềng.

Bài tổng hợp từ tư liệu dân gian. Một số chi tiết có thể thay đổi theo vùng miền.

Ẩm thực văn hóa truyền thống

Ẩm thực Hà Tĩnh là sự kết tinh từ vùng đất khắc nghiệt nhưng giàu truyền thống lịch sử, nơi mỗi món ăn đều mang dấu ấn của sự sáng tạo, tiết kiệm và lòng hiếu khách của người dân xứ Nghệ. Các món đặc sản không chỉ ngon miệng mà còn chứa đựng những câu chuyện văn hóa, phong tục tập quán được lưu truyền qua nhiều thế hệ.

Kẹo Cu Đơ

Kẹo Cu Đơ ra đời từ thời kháng chiến chống Pháp, gắn với giai thoại về người lính tên Cu Đơ nghèo khó sáng tạo ra món quà vặt từ lạc, mạch nha và gừng để tiếp sức cho bộ đội. Tên gọi mộc mạc "Cu Đơ" đã trở thành biểu tượng của sự giản dị, chân chất, thường được dùng làm quà biếu trong các dịp lễ tết, hay để thết đãi khách quý. Món kẹo thể hiện tinh thần vượt khó và sự ấm áp trong văn hóa ẩm thực địa phương.

Bánh Bột Lọc

Bánh bột lọc là món ăn dân dã xuất hiện từ lâu đời trong mâm cơm của người Hà Tĩnh, thường được nấu trong các dịp giỗ chạp, cúng tổ tiên. Nhân tôm thịt gói trong lớp bột lọc trong veo tượng trưng cho sự tinh khiết, đủ đầy. Phong tục ăn bánh chấm nước mắm ớt cay nồng thể hiện khẩu vị mặn mà, đặc trưng của vùng đất gió Lào cát trắng.

Cháo Lươn

Cháo lươn Hà Tĩnh có nguồn gốc từ cuộc sống lao động ven sông Lam, nơi người dân tận dụng nguồn lươn đồng dồi dào để tạo nên món ăn bổ dưỡng. Thường được dùng vào sáng sớm hoặc là món ăn cho người ốm, cháo lươn thể hiện tình cảm quan tâm trong văn hóa gia đình. Cách nấu cháo phải ninh từ xương lươn, thịt lươn thái chỉ, ăn kèm rau thơm, hạt tiêu – tất cả đều toát lên sự tinh tế và trân trọng nguyên liệu tự nhiên.

Bánh Mướt

Bánh mướt là món bánh mỏng, mềm, thường xuất hiện trong mỗi sáng sớm ở làng quê Hà Tĩnh. Món ăn gắn liền với hình ảnh người phụ nữ tỉ mẩn tráng bánh, tượng trưng cho sự cần cù, khéo léo. Bánh ăn cùng hành phi, thịt heo và nước mắm chua ngọt, phản ánh nét văn hóa ẩm thực thanh đạm, mộc mạc nhưng đậm đà hương vị quê hương.

Bánh Đa Vừng

Bánh đa vừng là món quà quê nổi tiếng, thường được làm vào dịp Tết hay các phiên chợ quê. Những chiếc bánh tròn, rắc vừng đen, nướng trên than hồng dậy lên mùi thơm đặc trưng. Trong văn hóa dân gian, bánh đa vừng được xem là món ăn của sự sum vầy, thường được các bà, các mẹ gói ghém mời con cháu xa xứ, như một cách lưu giữ hương vị quê nhà.

Phần ẩm thực tổng hợp từ tư liệu văn hóa dân gian.

Nguồn tham khảo

© Lịch Lành — lichlanh.com