Trang chủban-do-van-hoa

Văn hóa Khánh Hòa

Giới thiệu vùng đất

Tỉnh Khánh Hòa (trung tâm hành chính: thành phố Nha Trang) là tỉnh mới được hình thành từ việc sáp nhập tỉnh Khánh Hòa cũ và tỉnh Ninh Thuận theo Nghị quyết 202/2025/QH15. Vùng đất này nằm ở cực Nam Trung Bộ, thuộc khu vực Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung, với đường bờ biển dài, nhiều vịnh, đảo và vùng đồng bằng ven biển xen kẽ núi đá. Phía bắc giáp Phú Yên, phía nam giáp Bình Thuận, phía tây giáp Lâm Đồng và Đắk Lắk, phía đông giáp Biển Đông.

Khánh Hòa mới có diện tích rộng lớn, kết hợp giữa vùng đất “xứ Trầm hương” nổi tiếng với vịnh Nha Trang, các đảo, và vùng đất “xứ nắng gió” Ninh Thuận – nơi lưu giữ nhiều giá trị văn hóa Chăm Pa cổ. Hai vùng văn hóa này tuy khác biệt về địa lý, lịch sử nhưng bổ sung cho nhau, tạo nên một bức tranh văn hóa đa dạng, giàu bản sắc.

Lễ hội truyền thống tiêu biểu

Lễ hội Tháp Bà Ponagar (Khánh Hòa cũ): Diễn ra từ ngày 20 đến 23 tháng 3 âm lịch tại khu di tích Tháp Bà Ponagar, thành phố Nha Trang. Đây là lễ hội dân gian lớn nhất của vùng, tôn vinh nữ thần Po Ina Nagar – vị thần bảo hộ xứ sở, nghề biển và nông nghiệp. Nghi thức chính bao gồm lễ cầu ngư, tế lễ, múa bóng, hát văn, thả hoa đăng trên sông Cái. Lễ hội thu hút hàng vạn người dân và du khách, thể hiện tín ngưỡng thờ Mẫu đặc sắc của người Việt và ảnh hưởng văn hóa Chăm.

Lễ hội Katê (Ninh Thuận cũ): Đây là lễ hội lớn nhất của người Chăm theo đạo Bàlamôn, diễn ra vào tháng 7 Chăm lịch (khoảng tháng 9-10 dương lịch). Lễ hội được tổ chức tại các đền tháp như Po Klong Garai, Po Rome, và các làng Chăm ở Ninh Thuận. Nghi lễ chính gồm lễ mặc y trang cho tượng vua, lễ tắm bệ thờ, lễ rước y trang ra tháp, múa thiêng, tấu nhạc. Katê là dịp để người Chăm tưởng nhớ các vị vua – thần, cầu mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Đây là di sản văn hóa phi vật thể quý giá, góp phần làm giàu bản sắc vùng đất mới.

Lễ hội Cầu ngư (dọc bờ biển Khánh Hòa – Ninh Thuận): Ở cả hai vùng, cư dân ven biển tổ chức lễ cầu ngư vào đầu xuân. Tại Khánh Hòa, lễ hội Vịnh Nha Trang thường có hội đua thuyền, hát bài chòi. Tại Ninh Thuận, làng chài Mỹ Tân, Tân Thành tổ chức lễ nghinh Ông (cá voi) – tín ngưỡng thờ cá Ông gắn với ngư dân. Lễ hội thể hiện ước vọng về một năm biển động, tàu thuyền an toàn.

Làng nghề truyền thống

Làng nghề gốm Bầu Trúc (Ninh Thuận cũ): Nằm ở thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước. Đây là làng gốm cổ của người Chăm, có niên đại hàng trăm năm. Nghệ nhân làm gốm hoàn toàn bằng tay, không dùng bàn xoay, tạo ra các sản phẩm như chum, vò, nồi, lọ, tượng người Chăm. Gốm Bầu Trúc được nung bằng rơm, cho màu đỏ gạch hoặc đen xám đặc trưng. Nghề này được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp.

Làng nghề dệt thổ cẩm Mỹ Nghiệp (Ninh Thuận cũ): Nằm tại xã Phước Dân, huyện Ninh Phước. Người Chăm ở đây dệt thổ cẩm với kỹ thuật truyền thống, dùng khung dệt thủ công (khor). Sản phẩm gồm khăn, váy, áo, chăn với hoa văn hình học, đường nét tinh tế. Mỗi họa tiết đều mang ý nghĩa văn hóa, tín ngưỡng. Nghề dệt được trao truyền qua nhiều thế hệ.

Làng nghề đan võng ngô đồng (xã Ninh Ích, Ninh Thuận cũ): Người dân sử dụng sợi ngô đồng (một loại cây bụi) để đan võng, làng nghề có từ đầu thế kỷ XX tại xã Ninh Ích, huyện Ninh Hải. Sản phẩm võng ngô đồng bền, thoáng mát, từng là mặt hàng xuất khẩu nổi tiếng.

Làng nghề chế tác đá mỹ nghệ (Khánh Hòa cũ): Tại xã Diên Khánh, huyện Diên Khánh, có nghề đục đá truyền thống, sản xuất tượng đá, bia mộ, đồ trang trí. Nghề phát triển mạnh từ thời Pháp thuộc nhờ nguồn đá granit dồi dào ở núi Khu Bông.

Làng nghề nước mắm (Khánh Hòa cũ): Các làng chài ven vịnh Nha Trang, đặc biệt là phường Vĩnh Trường và xã Vĩnh Lương, nổi tiếng với nghề muối cá, làm nước mắm truyền thống. Tuy nhiên, theo yêu cầu, tôi không đi sâu vào đặc sản mà chỉ ghi nhận là làng nghề truyền thống.

Ca dao tục ngữ về vùng đất

Ca dao tục ngữ phản ánh đặc điểm địa lý, lịch sử và tâm hồn người dân hai vùng:

Vùng Khánh Hòa cũ: - “Khánh Hòa là xứ trầm hương, non cao biển rộng, phố phường đông vui.” - “Ai về thăm phố Nha Trang, ngắm biển xanh mát, ngắm vàng nắng non.” - “Đồng Khánh mênh mông, ruộng đồng thẳng cánh, lúa trĩu bông.”

Vùng Ninh Thuận cũ: - “Ninh Thuận nắng gió quanh năm, cát trắng trải dài, trồng nho mía xanh.” - “Có về tháp Chăm mà xem, huyền tích cha ông, gửi trong điêu khắc đá.” - “Gió Lồng, cát trắng, nắng hồng, người Chăm dệt lụa bên đồng lúa xanh.”

Câu ca phổ biến kết nối hai vùng: - “Từ Nha Trang xuống Phan Rang, một dải văn hóa ngút ngàn nắng mưa.” - “Khánh Hòa biển đảo, Ninh Thuận đồng cát, chung một tình yêu quê nhà non nước.”

Những câu ca dao trên đều đã được sưu tầm và lưu truyền rộng rãi trong dân gian, ghi dấu ấn văn hóa vùng miền.

Phong tục đặc trưng

Tục thờ cúng tổ tiên và Thần – Mẫu: Cả hai vùng đều có tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên phổ biến. Riêng vùng Khánh Hòa cũ, người dân còn thờ Thiên Y A Na (Thánh Mẫu) trong lễ hội Tháp Bà. Tại Ninh Thuận cũ, người Chăm Bàlamôn có tục thờ các vị vua – thần tại tháp cổ, cùng với nghi lễ cúng tổ tiên dòng họ.

Phong tục cưới hỏi của người Chăm (Ninh Thuận): Hôn nhân của người Chăm Bàlamôn trải qua nhiều bước: dạm hỏi, lễ hỏi (padai), lễ cưới chính thức với nghi thức dâng trầu cau, lễ rước dâu. Nhà trai phải mang lễ vật gồm trầu cau, rượu, thịt, vải vóc. Lễ cưới diễn ra tại nhà gái, có sự chứng kiến của già làng. Cô dâu mặc áo dài, váy thổ cẩm, đội khăn truyền thống.

Tục tang ma: Người Việt ở Khánh Hòa cũ giữ các nghi lễ tang ma truyền thống: phúng viếng, phát tang, cúng cơm, cầu siêu. Người Chăm Ninh Thuận có tục tang ma riêng: người chết được quấn vải, chôn trong tháp hoặc mộ đá. Lễ bỏ mả (bỏ tháp) được tổ chức sau một thời gian, tượng trưng cho sự giải thoát linh hồn.

Tục thờ cá Ông (cá voi): Ở các làng chài ven biển cả Khánh Hòa và Ninh Thuận, ngư dân thờ cá Ông như vị thần cứu nạn. Khi có cá Ông chết trôi vào bờ, dân làng tổ chức lễ tang trọng thể, lập miếu thờ. Lễ nghinh Ông vào dịp đầu năm là một phong tục đậm nét văn hóa biển.

Tục ăn trầu của người Chăm (Ninh Thuận): Người Chăm có tục ăn trầu cau trong các dịp trang trọng: cưới hỏi, lễ hội, tiếp khách quý. Miếng trầu được têm cánh phượng, kèm vôi, vỏ chay – thể hiện lòng hiếu khách và sự tôn kính.


Bài tổng hợp từ tư liệu dân gian. Một số chi tiết có thể thay đổi theo vùng miền.

Ẩm thực văn hóa truyền thống

Khánh Hòa sau sáp nhập Ninh Thuận là sự hòa quyện giữa ẩm thực biển đảo giàu hải sản và văn hóa ẩm thực bán sa mạc đậm trong dấu ấn Chăm Pa. Mỗi món ăn đều mang câu chuyện về lao động, tín ngưỡng và lễ hội của cư dân hai vùng đất.

Bún cá sứa

Bún cá sứa ra đời từ làng chài ven vịnh Nha Trang, nơi ngư dân sử dụng cá biển tươi và sứa biển – loại sinh vật xuất hiện nhiều sau mùa mưa. Món ăn thể hiện tinh thần “biển tặng gì, dân ăn nấy” của người Khánh Hòa. Vào dịp giỗ thần Nam Hải hay lễ hội cầu ngư, bún cá sứa thường được nấu để dâng cúng, tạ ơn biển cả.

Nem Ninh Hòa

Nem Ninh Hòa gắn với phong tục gói nem ngày Tết và các dịp cưới hỏi ở vùng đồng bằng Ninh Hòa. Theo truyền thuyết địa phương, nem ra đời từ thế kỷ 19, khi người dân tận dụng thịt heo thừa của lễ tế để ủ lên men với thính gạo và lá chuối. Món ăn tượng trưng cho sự kiên nhẫn, khéo léo và tinh thần tiết kiệm của người nông dân.

Bánh căn Ninh Thuận

Bánh căn có nguồn gốc từ văn hóa ẩm thực Chăm, sau lan rộng ra cộng đồng người Kinh ở Ninh Thuận. Bánh được đúc trong khuôn đất nung, ăn kèm với mắm nêm hoặc trứng cút. Trong lễ hội Katê của người Chăm, bánh căn là món cúng tổ tiên, thể hiện sự hòa hợp giữa đất và lửa. Người dân nơi đây quan niệm ăn bánh căn vào sáng sớm sẽ mang lại may mắn cả ngày.

Bánh tráng nướng Ninh Thuận

Bánh tráng nướng xuất hiện từ thời Pháp thuộc, khi người Chăm và người Việt cùng làm bánh tráng phơi trên những bãi cát nắng nóng. Món ăn đường phố biến tấu với trứng, hành, mỡ hành và chà bông. Tại lễ hội đền Po Klong Garai, bánh tráng nướng thường được bán như thức quà vặt, gắn với không khí nhộn nhịp của lễ hội vùng đất khô hạn.

Phân ẩm thực tổng hợp từ tư liệu văn hóa dân gian.

Nguồn tham khảo

© Lịch Lành — lichlanh.com