Văn hóa tỉnh Quảng Ngãi (Mới)
Giới thiệu vùng đất
Tỉnh Quảng Ngãi (mới) được hình thành trên cơ sở sáp nhập tỉnh Quảng Ngãi (cũ) và tỉnh Kon Tum, trung tâm hành chính đặt tại thành phố Quảng Ngãi (cũ). Đây là tỉnh nằm ở vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung, kéo dài từ dải đồng bằng ven biển đến vùng cao nguyên phía Tây, tạo nên một bức tranh văn hóa đa sắc, hội tụ tinh hoa của hai vùng đất với lịch sử hình thành lâu đời.
Phần Quảng Ngãi (cũ) nổi tiếng với văn hóa Sa Huỳnh từ thời tiền sử, còn phần Kon Tum mang đậm bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số như Ba Na, Xê Đăng, Gia Rai… Vùng đất này là nơi giao thoa giữa văn minh đồng bằng và văn hóa Tây Nguyên, tạo nên một tổng thể văn hóa phong phú, vừa có nét chung của miền Trung duyên hải, vừa mang hồn núi rừng đại ngàn. Sự kết nối này không chỉ là hợp nhất hành chính mà còn là sự dung hợp những giá trị tinh thần qua nhiều thế hệ.
Lễ hội truyền thống tiêu biểu
Lễ hội đua thuyền truyền thống trên sông Trà Khúc là lễ hội lớn nhất của vùng Quảng Ngãi (cũ), được tổ chức 2 năm một lần vào mùng 5-6 Tết Nguyên đán, thu hút hàng ngàn người dân và du khách. Đây là lễ hội tôn vinh tinh thần thượng võ, sức mạnh đoàn kết của cư dân ven sông, kết hợp với các nghi lễ cầu bình an, mùa màng thuận lợi.
Ngoài ra, Lễ hội Khao lề thế lính Hoàng Sa tại huyện Lý Sơn là dịp tưởng nhớ các đội lính năm xưa ra Hoàng Sa cắm mốc chủ quyền, được tổ chức vào tháng 3 âm lịch hàng năm, gắn liền với tín ngưỡng thờ cúng cá Ông của ngư dân.
Vùng Kon Tum nổi bật với Lễ hội Đâm trâu của người Ba Na, thường tổ chức sau mùa thu hoạch hoặc trong các dịp quan trọng như mừng nhà rông mới. Người Ba Na tin rằng hiến tế trâu sẽ xoa dịu thần linh, cầu cho mưa thuận gió hòa, bản làng no ấm. Ngoài ra, Lễ hội Mừng lúa mới của đồng bào Xê Đăng, Gia Rai cũng là dịp cả cộng đồng quây quần, múa hát bên ché rượu cần, thể hiện lòng biết ơn đất trời. Lễ hội cồng chiêng Tây Nguyên – di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại – được tổ chức rộng khắp các huyện như Kon Rẫy, Đăk Hà, Sa Thầy, tạo nên không gian văn hóa đặc sắc.
Làng nghề truyền thống
Làng gốm Phổ Khánh (huyện Đức Phổ) là một trong những làng gốm cổ nhất miền Trung, với tuổi đời hơn 300 năm. Nghệ nhân nơi đây vẫn duy trì kỹ thuật làm gốm thủ công bằng bàn xoay, tạo ra những sản phẩm gốm đỏ mộc mạc, mang đậm hồn đất. So với các làng gốm nổi tiếng khác, gốm Phổ Khánh giữ được nét hoang sơ, không tráng men.
Vùng Kon Tum có Làng dệt thổ cẩm Kon Jơ Dri (xã Ya Chim, huyện Kon Rẫy). Hoa văn trên thổ cẩm của người Ba Na ở đây mang hình tượng mặt trời, hình quả trám, con thú… tượng trưng cho vũ trụ và cuộc sống lao động. Mỗi tấm thổ cẩm mất từ 7-15 ngày để hoàn thành, được dùng trong các lễ hội và làm của hồi môn. Ngoài ra, làng đan lát của người Gia Rai ở huyện Sa Thầy cũng rất nổi tiếng, sản xuất các loại gùi, rổ, chiếu mây tre phục vụ sinh hoạt hàng ngày và du lịch.
Ca dao tục ngữ về vùng đất
Qua nhiều thế hệ, người dân hai vùng đã lưu truyền những câu ca dao, tục ngữ phản ánh đặc trưng văn hóa của mình. Từ vùng Quảng Ngãi (cũ) có câu:
“Ai về Quảng Ngãi quê ta,
Nhớ dòng sông Trà, nhớ núi Thiên Bút.”
Câu ca dao này nhắc đến hai địa danh nổi tiếng: sông Trà Khúc và núi Thiên Bút (thuộc huyện Sơn Tịnh), biểu tượng cho cảnh sắc hữu tình và lòng tự hào của người dân xứ Quảng.
Từ vùng đất Kon Tum, có câu:
“Kon Tum đồi núi trập trùng,
Thương người dân tộc cần cù thủy chung.”
(Theo lưu truyền dân gian)
Câu ca dao này gợi lên hình ảnh vùng đất Tây Nguyên với địa hình hiểm trở nhưng cũng đầy tình người, ca ngợi đức tính cần cù, gắn bó với núi rừng của đồng bào các dân tộc.
Ngoài ra, còn có tục ngữ phổ biến: “Đường vô xứ Quảng quanh quanh, không bằng xứ Quảng có thanh có hoa” (ý chỉ vùng Quảng Ngãi giàu truyền thống văn hóa, con người hào hoa). Với Kon Tum, người già thường dạy: “Lên rừng nhớ mang gùi, đi đám nhớ mang chiêng” – khẳng định tầm quan trọng của chiêng và gùi trong đời sống tinh thần.
Phong tục đặc trưng
Ở phần đất Quảng Ngãi (cũ), phong tục thờ cúng cá Ông (cá voi) rất phổ biến trong cộng đồng ngư dân ven biển, đặc biệt ở huyện Lý Sơn, Bình Sơn, Mộ Đức. Người dân lập lăng Ông, tổ chức lễ nghinh Ông vào tháng 3 và tháng 9 âm lịch, cầu mong chuyến đi biển bình an, đánh bắt được nhiều tôm cá. Đây là phong tục thể hiện lòng tôn kính với “vị thần biển”.
Với vùng Kon Tum, phong tục uống rượu cần là nét văn hóa không thể thiếu. Khi khách quý đến nhà, người dân tộc Ba Na, Gia Rai sẽ mời rượu cần, mọi người ngồi quây quần quanh ché rượu, cùng nhau uống qua các ống tre dài. Nghi thức này không chỉ là uống rượu mà còn là biểu tượng của sự đoàn kết, gắn kết cộng đồng. Phong tục cưới hỏi của người Xê Đăng cũng rất đặc biệt: nhà trai phải mang trâu, gà, rượu và thổ cẩm đến nhà gái, kèm theo một thanh gươm hoặc rìu làm tin, thể hiện sự trân trọng và lời hứa bảo vệ gia đình.
Sau khi sáp nhập, những phong tục này vẫn được gìn giữ và trở thành tài sản chung của tỉnh Quảng Ngãi (mới), tạo nên một di sản văn hóa đa dạng và hấp dẫn, xứng đáng là điểm đến của du khách trong và ngoài nước.
Bài tổng hợp từ tư liệu dân gian. Một số chi tiết có thể thay đổi theo vùng miền.
Ẩm thực văn hóa truyền thống
Vùng đất Quảng Ngãi và Kon Tum tuy có sự khác biệt về địa hình và dân tộc nhưng lại hội tụ những món ăn mang đậm hồn quê, gắn với tập tục canh tác, tín ngưỡng và sinh hoạt cộng đồng qua nhiều thế hệ.
Mì Quảng
Mì Quảng xuất phát từ làng quê ven sông Trà, là biểu tượng ẩm thực của người dân xứ Quảng. Món ăn ra đời từ thời kỳ khai hoang lập ấp, thể hiện sự hòa quyện giữa nguyên liệu đồng bằng và biển cả. Trong các dịp giỗ chạp hay Tết Nguyên đán, tô mì Quảng với sợi bột dày, nước dùng đậm đà và rau sống địa phương được xem như lễ vật dâng tổ tiên, tượng trưng cho lòng hiếu thảo và ước vọng no ấm.
Cơm lam
Cơm lam là món ăn truyền thống của đồng bào Ba Na, Xơ Đăng và Gia Rai ở Kon Tum. Gạo nếp được cho vào ống tre non, nướng trên lửa hồng, tạo nên hương thơm đặc trưng của rừng núi. Nghi lễ làm cơm lam thường gắn với lễ hội mùa màng, là dịp cộng đồng quây quần, cùng nắm cơm và chấm muối vừng. Với người dân Tây Nguyên, cơm lam không chỉ là thức ăn mà còn là sợi dây kết nối giữa con người với thiên nhiên và thần linh.
Kẹo gương
Kẹo gương là đặc sản vùng Sa Huỳnh – Quảng Ngãi, được làm từ mạch nha, gừng và mè. Nghề làm kẹo gương có từ thế kỷ 19, thường phục vụ trong dịp Tết cổ truyền. Từng miếng kẹo màu hổ phách, giòn tan tượng trưng cho sự ngọt ngào và may mắn. Trong phong tục cúng tất niên, người dân dùng kẹo gương để bày lễ, gửi gắm mong ước một năm mới sung túc.
Rượu cần
Rượu cần là thức uống nghi lễ quan trọng của đồng bào các dân tộc Kon Tum. Hũ rượu được ủ từ gạo, sắn và men lá trong nhiều tháng, dùng cần tre để hút. Trong lễ hội cồng chiêng hay hội làng, rượu cần được bưng ra giữa sàn nhà, mọi người cùng quây quần hút chung một hũ, thể hiện tình đoàn kết và lòng hiếu khách. Nghi thức này còn được dùng để giao hòa giữa các buôn làng mỗi khi xảy ra mâu thuẫn.
Bánh ít
Bánh ít có mặt trong hầu hết các mâm cỗ giỗ, cưới hỏi của người Quảng Ngãi. Bánh được làm từ bột nếp, nhân đậu xanh hoặc thịt dừa, gói trong lá chuối và hấp chín. Hình dáng tròn trịa của bánh tượng trưng cho sự viên mãn, sum vầy. Theo truyền thuyết dân gian, bánh ít xuất hiện từ thời Hùng Vương, là một trong những lễ vật dâng lên tổ tiên trong dịp giỗ Tổ.
Phan am thuc tong hop tu tu lieu van hoa dan gian.